- Đo kiểm tra giá trị của điện trở
- Đo kiểm tra sự thông mạch của một đoạn dây dẫn
- Đo kiểm tra sự thông mạch của một đoạn mạch in
- Đo kiểm tra các cuộn dây biến áp có thông mạch không
- Đo kiểm tra sự phóng nạp của tụ điện
- Đo kiểm tra xem tụ có bị dò, bị chập không.
- Đo kiểm tra trở kháng của một mạch điện
- Đo kiểm tra đi ốt và bóng bán dẫn.
- Bước 1 : Để thang đồng hồ về các thang đo trở, nếu điện trở nhỏ thì để thang x1 ohm hoặc x10 ohm, nếu điện trở lớn thì để thang x1Kohm hoặc 10Kohm. => sau đó chập hai que đo và chỉnh triết áo để kim đồng hồ báo vị trí 0 ohm.
- Bước 2 : Chuẩn bị đo .
- Bước 3 : Đặt que đo vào hai đầu điện trở, đọc trị số trên thang đo , Giá trị đo được = chỉ số thang đo X thang đoVí dụ : nếu để thang x 100 ohm và chỉ số báo là 27 thì giá trị là = 100 x 27 = 2700 ohm = 2,7 K ohm
- Bước 4 : Nếu ta để thang đo quá cao thì kim chỉ lên một chút , như vậy đọc trị số sẽ không chính xác.
- Bước 5 : Nếu ta để thang đo quá thấp , kim lên quá nhiều, và đọc trị số cũng không chính xác.
- Khi đo điện trở ta chọn thang đo sao cho kim báo gần vị trí giữa vạch chỉ số sẽ cho độ chính xác cao nhất.
- Tụ C1 còn tốt => kim phóng nạp khi ta đo
- Tụ C2 bị dò => lên kim nhưng không trở về vị trí cũ
- Tụ C3 bị chập => kim đồng hồ lên = 0 ohm và không trở về.
- Ở trên là phép đo so sánh hai tụ hoá cùng điện dung, trong đó tụ C1 là tụ mới còn C2 là tụ cũ, ta thấy tụ C2 có độ phóng nạp yếu hơn tụ C1 => chứng tỏ tụ C2 bị khô ( giảm điện dung )
- Chú ý khi đo tụ phóng nạp, ta phải đảo chiều que đo vài lần để xem độ phóng nạp.
- Bươc 1 : Đặt đồng hồ vào thang đo dòng cao nhất .
- Bước 2: Đặt que đồng hồ nối tiếp với tải, que đỏ về chiều dương, que đen về chiều âm .
- Nếu kim lên thấp quá thì giảm thang đo
- Nếu kim lên kịch kim thì tăng thang đo, nếu thang đo đã để thang cao nhất thì đồng hồ không đo được dòng điện này.
- Chỉ số kim báo sẽ cho ta biết giá trị dòng điện .
- Nếu ta để thang đo 250V thì ta đọc trên vạch có giá trị cao nhất là 250, tương tự để thang 10V thì đọc trên vạch có giá trị cao nhất là 10. trường hợp để thang 1000V nhưng không có vạch nào ghi cho giá trị 1000 thì đọc trên vạch giá trị Max = 10, giá trị đo được nhân với 100 lần
- Khi đo điện áp AC thì đọc giá trị cũng tương tự. đọc trên vạch AC.10V, nếu đo ở thang có giá trị khác thì ta tính theo tỷ lệ. Ví dụ nếu để thang 250V thì mỗi chỉ số của vạch 10 số tương đương với 25V.
- Khi đo dòng điện thì đọc giá trị tương tự đọc giá trị khi đo điện áp
1/Phân loại tụ điện và cách đọc tụ điện
Tụ điện theo đúng tên gọi chính là linh kiện có chức năng tích tụ năng lượng điện, nói một cách nôm na. Chúng thường được dùng kết hợp với các điện trở trong các mạch định thời bởi khả năng tích tụ năng lượng điện trong một khoảng thời gian nhất định. Đồng thời tụ điện cũng được sử dụng trong các nguồn điện với chức năng làm giảm độ gợn sóng của nguồn trong các nguồn xoay chiều, hay trong các mạch lọc bởi chức năng của tụ nói một cách đơn giản đó là tụ ngắn mạch (cho dòng điện đi qua) đối với dòng điện xoay chiều và hở mạch đối với dòng điện 1 chiều.
Trong một số các mạch điện đơn giản, để đơn giản hóa trong quá trình tính toán hay thay thế tương đương thì chúng ta thường thay thế một tụ điện bằng một dây dẫn khi có dòng xoay chiều đi qua hay tháo tụ ra khỏi mạch khi có dòng một chiều trong mạch. Điều này khá là cần thiết khi thực hiện tính toán hay xác định các sơ đồ mạch tương đương cho các mạch điện tử thông thường.
Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều loại tụ điện khác nhau nhưng về cơ bản, chúng ta có thể chia tụ điện thành hai loại: Tụ có phân cực (có cực xác định) và tụ điện không phân cực (không xác định cực dương âm cụ thể).
Để đặc trưng cho khả năng tích trữ năng lượng điện của tụ điện, người ta đưa ra khái niệm là điện dung của tụ điện. Điện dung càng cao thì khả năng tích trữ năng lượng của tụ điện càng lớn và ngược lại. Giá trị điện dung được đo bằng đơn vị Farad (kí hiệu là F). Giá trị F là rất lớn nên thông thường trong các mạch điện tử, các giá trị tụ chỉ đo bằng các giá trị nhỏ hơn như micro fara (μF), nano Fara (nF) hay picro Fara (pF).
1F=106μF=109nF=1012pF
Tụ hoá
Tụ hóa là một loại tụ có phân cực. Chính vì thế khi sử dụng tụ hóa yêu cầu người sử dụng phải cắm đúng chân của tụ điện với điện áp cung cấp. Thông thường, các loại tụ hóa thường có kí hiệu chân cụ thể cho người sử dụng bằng các ký hiệu + hoặc = tương ứng với chân tụ.
Có hai dạng tụ hóa thông thường đó là tụ hóa có chân tại hai đầu trụ tròn của tụ (tụ có ghi 220μF trên hình a) và loại tụ hóa có 2 chân nối ra cùng 1 đầu trụ tròn (tụ có ghi giá trị 10μF trên hình a). Đồng thời trên các tụ hóa, người ta thường ghi kèm giá trị điện áp cực đại mà tụ có thể chịu được. Nếu trường hợp điện áp lớn hơn so với giá trị điện áp trên tụ thì tụ sẽ bị phồng hoặc nổ tụ tùy thuộc vào giá trị điện áp cung cấp. Thông thường, khi chọn các loại tụ hóa này người ta thường chọn các loại tụ có giá trị điện áp lớn hơn các giá trị điện áp đi qua tụ để đảm bảo tụ hoạt động tốt và đảm bảo tuổi thọ của tụ hóa.
Tụ Tantali
Tụ Tantali cũng là loại tụ hóa nhưng có điện áp thấp hơn so với tụ hóa. Chúng khá đắt nhưng nhỏ và chúng được dùng khi yêu cầu về tụ dung lớn nhưng kích thước nhỏ.
Các loại tụ Tantali hiện nay thường ghi rõ trên nó giá trị tụ, điện áp cũng như cực của tụ. Các loại tụ Tantali ngày xưa sử dụng mã màu để phân biệt. Chúng thường có 3 cột màu (biểu diễn giá trị tụ, một cột biểu diễn giá trị điện áp) và một chấm màu đặc trưng cho số các số không sau dấu phẩy tính theo giá trị μF. Chúng cũng dùng mã màu chuẩn cho việc định nghĩa các giá trị nhưng đối với các điểm màu thì điểm màu xám có nghĩa là giá trị tụ nhân với 0,01; trắng nhân 0,1 và đen là nhân 1. Cột màu định nghĩa giá trị điện áp thường nằm ở gần chân của tụ và có các giá trị như sau:
Tụ thường và kí hiệu
vàng=6,3V
Đen= 10V
Xanh lá cây= 16V
Xanh da trời= 20V
Xám= 25V
Trắng= 30V
Hồng= 35V
Tụ không phân cực
Các loại tụ nhỏ thường không phân cực. Các loại tụ này thường chịu được các điện áp cao mà thông thường là khoảng 50V hay 250V. Các loại tụ không phân cực này có rất nhiều loại và có rất nhiều các hệ thống chuẩn đọc giá trị khác nhau.
Rất nhiều các loại tụ có giá trị nhỏ được ghi thẳng ra ngoài mà không cần có hệ số nhân nào, nhưng cũng có các loại tụ có thêm các giá trị cho hệ số nhân. Ví dụ có các tụ ghi 0.1 có nghĩa giá trị của nó là 0,1μF=100nF hay có các tụ ghi là 4n7 thì có nghĩa giá trị của tụ đó chính là 4,7nF
Các loại tụ có dùng mã
Mã số thường được dùng cho các loại tụ có giá trị nhỏ trong đó các giá trị được định nghĩa lần lượt như sau:
- Giá trị thứ 1 là số hàng chục
- Giá trị thứ 2 là số hàng đơn vị
- Giá trị thứ 3 là số số không nối tiếp theo giá trị của số đã tạo từ giá trị 1 và
2.Giá trị của tụ được đọc theo chuẩn là giá trị picro Fara (pF)
- Chữ số đi kèm sau cùng đó là chỉ giá trị sai số của tụ.
Ví dụ: tụ ghi giá trị 102 thì có nghĩa là 10 và thêm 2 số 0 đằng sau =1000pF = 1nF chứ không phải 102pF
Hoặc ví dụ tụ 272J thì có nghĩa là 2700pF=2,7nF và sai số là 5%
Tụ có dùng mã màu
Sử dụng chủ yếu trên các tụ loại polyester trong rất nhiều năm. Hiện nay các loại tụ này đã không còn bán trên thị trường nữa nhưng chúng vẫn tồn tại trong khá nhiều các mạch điện tử cũ. Màu được định nghĩa cũng tương tự như đối với màu trên điện trở. 3 màu trên cùng lần lượt chỉ giá trị tụ tính theo pF, màu thứ 4 là chỉ dung sai và màu thứ 5 chỉ ra giá trị điện áp.
Ví dụ tụ có màu nâu/đen/cam có nghĩa là 10000pF= 10nF= 0.01uF.
Chú ý rằng ko có khoảng trống nào giữa các màu nên thực tế khi có 2 màu cạnh nhau giống nhau thì nó tạo ra một mảng màu rộng. Ví dụ Dải đỏ rộng/vàng= 220nF=0.22uF
Tụ Polyester
Ngày nay, loại tụ này cũng hiếm khi được sử dụng. Giá trị của các loại tụ này thường được in ngay trên tụ theo giá trị pF. Tụ này có một nhược điểm là dễ bị hỏng do nhiệt hàn nóng. Chính vì thế khi hàn các loại tụ này người ta thường có các kỹ thuật riêng để thực hiện hàn, tránh làm hỏng tụ.
Tụ polyester
Tụ điện biến đổi
Tụ điện biến đổi thường được sử dụng trong các mạch điều chỉnh radio và chúng thường được gọi là tụ xoay. Chúng thường có các giá trị rất nhỏ, thông thường nằm trong khoảng từ 100pF đến 500pF.
Tụ xoay
Rất nhiều các tụ xoay có vòng xoay ngắn nên chúng không phù hợp cho các dải biến đổi rộng như là điện trở hoặc các chuyển mạch xoay. Chính vì thế trong nhiều ứng dụng, đặc biệt là trong các mạch định thời hay các mạch điều chỉnh thời gian thì người ta thường thay các tụ xoay bằng các điện trở xoay và kết hợp với 1 giá trị tụ điện xác định.
Tụ chặn
Tụ chặn là các tụ xoay có giá trị rất nhỏ. Chúng thường được gắn trực tiếp lên bản mạch điẹn tử và điều chỉnh sau khi mạch đã được chế tạo xong. Tương tự các biến trở hiện này thì khi điều chỉnh các tụ chặn này người ta cũng dùng các tuốc nơ vít loại nhỏ để điều chỉnh. Tuy nhiên do giá trị các tụ này khá nhỏ nên khi điều chỉnh, người ta thường phải rất cẩn thận và kiên trì vì trong quá trình điều chỉnh có sự ảnh hưởng của tay và tuốc nơ vít tới giá trị tụ.
Các tụ chặn này thường có giá trị rất nhỏ, thông thường nhỏ hơn khoảng 100pF. Có điều đặc biệt là không thể giảm nhỏ được các giá trị tụ chặn về 0 nên chúng thường được chỉ định với các giá trị tụ điện tối thiểu, khoảng từ 2 tới 10 pF.
Tụ điện theo đúng tên gọi chính là linh kiện có chức năng tích tụ năng lượng điện, nói một cách nôm na. Chúng thường được dùng kết hợp với các điện trở trong các mạch định thời bởi khả năng tích tụ năng lượng điện trong một khoảng thời gian nhất định. Đồng thời tụ điện cũng được sử dụng trong các nguồn điện với chức năng làm giảm độ gợn sóng của nguồn trong các nguồn xoay chiều, hay trong các mạch lọc bởi chức năng của tụ nói một cách đơn giản đó là tụ ngắn mạch (cho dòng điện đi qua) đối với dòng điện xoay chiều và hở mạch đối với dòng điện 1 chiều.
Trong một số các mạch điện đơn giản, để đơn giản hóa trong quá trình tính toán hay thay thế tương đương thì chúng ta thường thay thế một tụ điện bằng một dây dẫn khi có dòng xoay chiều đi qua hay tháo tụ ra khỏi mạch khi có dòng một chiều trong mạch. Điều này khá là cần thiết khi thực hiện tính toán hay xác định các sơ đồ mạch tương đương cho các mạch điện tử thông thường.
Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều loại tụ điện khác nhau nhưng về cơ bản, chúng ta có thể chia tụ điện thành hai loại: Tụ có phân cực (có cực xác định) và tụ điện không phân cực (không xác định cực dương âm cụ thể).
Để đặc trưng cho khả năng tích trữ năng lượng điện của tụ điện, người ta đưa ra khái niệm là điện dung của tụ điện. Điện dung càng cao thì khả năng tích trữ năng lượng của tụ điện càng lớn và ngược lại. Giá trị điện dung được đo bằng đơn vị Farad (kí hiệu là F). Giá trị F là rất lớn nên thông thường trong các mạch điện tử, các giá trị tụ chỉ đo bằng các giá trị nhỏ hơn như micro fara (μF), nano Fara (nF) hay picro Fara (pF).
1F=106μF=109nF=1012pF
Tụ hoá
Tụ hóa là một loại tụ có phân cực. Chính vì thế khi sử dụng tụ hóa yêu cầu người sử dụng phải cắm đúng chân của tụ điện với điện áp cung cấp. Thông thường, các loại tụ hóa thường có kí hiệu chân cụ thể cho người sử dụng bằng các ký hiệu + hoặc = tương ứng với chân tụ.
Có hai dạng tụ hóa thông thường đó là tụ hóa có chân tại hai đầu trụ tròn của tụ (tụ có ghi 220μF trên hình a) và loại tụ hóa có 2 chân nối ra cùng 1 đầu trụ tròn (tụ có ghi giá trị 10μF trên hình a). Đồng thời trên các tụ hóa, người ta thường ghi kèm giá trị điện áp cực đại mà tụ có thể chịu được. Nếu trường hợp điện áp lớn hơn so với giá trị điện áp trên tụ thì tụ sẽ bị phồng hoặc nổ tụ tùy thuộc vào giá trị điện áp cung cấp. Thông thường, khi chọn các loại tụ hóa này người ta thường chọn các loại tụ có giá trị điện áp lớn hơn các giá trị điện áp đi qua tụ để đảm bảo tụ hoạt động tốt và đảm bảo tuổi thọ của tụ hóa.
Tụ Tantali
Tụ Tantali cũng là loại tụ hóa nhưng có điện áp thấp hơn so với tụ hóa. Chúng khá đắt nhưng nhỏ và chúng được dùng khi yêu cầu về tụ dung lớn nhưng kích thước nhỏ.
Các loại tụ Tantali hiện nay thường ghi rõ trên nó giá trị tụ, điện áp cũng như cực của tụ. Các loại tụ Tantali ngày xưa sử dụng mã màu để phân biệt. Chúng thường có 3 cột màu (biểu diễn giá trị tụ, một cột biểu diễn giá trị điện áp) và một chấm màu đặc trưng cho số các số không sau dấu phẩy tính theo giá trị μF. Chúng cũng dùng mã màu chuẩn cho việc định nghĩa các giá trị nhưng đối với các điểm màu thì điểm màu xám có nghĩa là giá trị tụ nhân với 0,01; trắng nhân 0,1 và đen là nhân 1. Cột màu định nghĩa giá trị điện áp thường nằm ở gần chân của tụ và có các giá trị như sau:
Tụ thường và kí hiệu
vàng=6,3V
Đen= 10V
Xanh lá cây= 16V
Xanh da trời= 20V
Xám= 25V
Trắng= 30V
Hồng= 35V
Tụ không phân cực
Các loại tụ nhỏ thường không phân cực. Các loại tụ này thường chịu được các điện áp cao mà thông thường là khoảng 50V hay 250V. Các loại tụ không phân cực này có rất nhiều loại và có rất nhiều các hệ thống chuẩn đọc giá trị khác nhau.
Rất nhiều các loại tụ có giá trị nhỏ được ghi thẳng ra ngoài mà không cần có hệ số nhân nào, nhưng cũng có các loại tụ có thêm các giá trị cho hệ số nhân. Ví dụ có các tụ ghi 0.1 có nghĩa giá trị của nó là 0,1μF=100nF hay có các tụ ghi là 4n7 thì có nghĩa giá trị của tụ đó chính là 4,7nF
Các loại tụ có dùng mã
Mã số thường được dùng cho các loại tụ có giá trị nhỏ trong đó các giá trị được định nghĩa lần lượt như sau:
- Giá trị thứ 1 là số hàng chục
- Giá trị thứ 2 là số hàng đơn vị
- Giá trị thứ 3 là số số không nối tiếp theo giá trị của số đã tạo từ giá trị 1 và
2.Giá trị của tụ được đọc theo chuẩn là giá trị picro Fara (pF)
- Chữ số đi kèm sau cùng đó là chỉ giá trị sai số của tụ.
Ví dụ: tụ ghi giá trị 102 thì có nghĩa là 10 và thêm 2 số 0 đằng sau =1000pF = 1nF chứ không phải 102pF
Hoặc ví dụ tụ 272J thì có nghĩa là 2700pF=2,7nF và sai số là 5%
Tụ có dùng mã màu
Sử dụng chủ yếu trên các tụ loại polyester trong rất nhiều năm. Hiện nay các loại tụ này đã không còn bán trên thị trường nữa nhưng chúng vẫn tồn tại trong khá nhiều các mạch điện tử cũ. Màu được định nghĩa cũng tương tự như đối với màu trên điện trở. 3 màu trên cùng lần lượt chỉ giá trị tụ tính theo pF, màu thứ 4 là chỉ dung sai và màu thứ 5 chỉ ra giá trị điện áp.
Ví dụ tụ có màu nâu/đen/cam có nghĩa là 10000pF= 10nF= 0.01uF.
Chú ý rằng ko có khoảng trống nào giữa các màu nên thực tế khi có 2 màu cạnh nhau giống nhau thì nó tạo ra một mảng màu rộng. Ví dụ Dải đỏ rộng/vàng= 220nF=0.22uF
Tụ Polyester
Ngày nay, loại tụ này cũng hiếm khi được sử dụng. Giá trị của các loại tụ này thường được in ngay trên tụ theo giá trị pF. Tụ này có một nhược điểm là dễ bị hỏng do nhiệt hàn nóng. Chính vì thế khi hàn các loại tụ này người ta thường có các kỹ thuật riêng để thực hiện hàn, tránh làm hỏng tụ.
Tụ polyester
Tụ điện biến đổi
Tụ điện biến đổi thường được sử dụng trong các mạch điều chỉnh radio và chúng thường được gọi là tụ xoay. Chúng thường có các giá trị rất nhỏ, thông thường nằm trong khoảng từ 100pF đến 500pF.
Tụ xoay
Rất nhiều các tụ xoay có vòng xoay ngắn nên chúng không phù hợp cho các dải biến đổi rộng như là điện trở hoặc các chuyển mạch xoay. Chính vì thế trong nhiều ứng dụng, đặc biệt là trong các mạch định thời hay các mạch điều chỉnh thời gian thì người ta thường thay các tụ xoay bằng các điện trở xoay và kết hợp với 1 giá trị tụ điện xác định.
Tụ chặn
Tụ chặn là các tụ xoay có giá trị rất nhỏ. Chúng thường được gắn trực tiếp lên bản mạch điẹn tử và điều chỉnh sau khi mạch đã được chế tạo xong. Tương tự các biến trở hiện này thì khi điều chỉnh các tụ chặn này người ta cũng dùng các tuốc nơ vít loại nhỏ để điều chỉnh. Tuy nhiên do giá trị các tụ này khá nhỏ nên khi điều chỉnh, người ta thường phải rất cẩn thận và kiên trì vì trong quá trình điều chỉnh có sự ảnh hưởng của tay và tuốc nơ vít tới giá trị tụ.
Các tụ chặn này thường có giá trị rất nhỏ, thông thường nhỏ hơn khoảng 100pF. Có điều đặc biệt là không thể giảm nhỏ được các giá trị tụ chặn về 0 nên chúng thường được chỉ định với các giá trị tụ điện tối thiểu, khoảng từ 2 tới 10 pF.
Đồng hồ vạn năng ( VOM ) là thiết bị đo không thể thiếu được với bất kỳ một kỹ thuật viên điện tử nào, đồng hồ vạn năng có 4 chức năng chính là Đo điện trở, đo điện áp DC, đo điện áp AC và đo dòng điện.
Ưu điểm của đồng hồ là đo nhanh, kiểm tra được nhiều loại linh kiện, thấy được sự phóng nạp của tụ điện , tuy nhiên đồng hồ này có hạn chế về độ chính xác và có trở kháng thấp khoảng 20K/Vol do vậy khi đo vào các mạch cho dòng thấp chúng bị sụt áp.
2) Hướng dẫn đo điện áp xoay chiều.
Sử dụng đồng hồ vạn năng đo áp AC
Khi đo điện áp xoay chiều ta chuyển thang đo về các thang AC, để thang AC cao hơn điện áp cần đo một nấc, Ví dụ nếu đo điện áp AC220V ta để thang AC 250V, nếu ta để thang thấp hơn điện áp cần đo thì đồng hồ báo kịch kim, nếu để thanh quá cao thì kim báo thiếu chính xác.
* Chú ý - chú ý :
Tuyết đối không để thang đo điện trở hay thang đo dòng điện khi đo vào điện áp xoay chiều => Nếu nhầm đồng hồ sẽ bị hỏng ngay lập tức !
Để nhầm thang đo dòng điện, đo vào nguồn AC => sẽ hỏng đồng hồ
Để nhầm thang đo điện trở, đo vào nguồn AC => sẽ hỏng các điện trở trong đồng hồ* Nếu để thang đo áp DC mà đo vào nguồn AC thì kim đồng hồ không báo , nhưng đồng hồ không ảnh hưởng .
Để thang DC đo áp AC đồng hồ không lên kim tuy nhiên đồng hồ không hỏng3) Hướng dẫn đo điện áp một chiều DC bằng đồng hồ vạn năng.
Khi đo điện áp một chiều DC, ta nhớ chuyển thang đo về thang DC, khi đo ta đặt que đỏ vào cực dương (+) nguồn, que đen vào cực âm (-) nguồn, để thang đo cao hơn điện áp cần đo một nấc. Ví dụ nếu đo áp DC 110V ta để thang DC 250V, trường hợp để thang đo thấp hơn điện áp cần đo => kim báo kịch kim, trường hợp để thang quá cao => kim báo thiếu chính xác.
Dùng đồng hồ vạn năng đo điện áp một chiều DC
* Trường hợp để sai thang đo :
Nếu ta để sai thang đo, đo áp một chiều nhưng ta để đồng hồ thang xoay chiều thì đồng hồ sẽ báo sai, thông thường giá trị báo sai cao gấp 2 lần giá trị thực của điện áp DC, tuy nhiên đồng hồ cũng không bị hỏng .
Để sai thang đo khi đo điện áp một chiều => báo sai giá trị.
* Trường hợp để nhầm thang đo
Chú ý - chú ý : Tuyệt đối không để nhầm đồng hồ vào thang đo dòng điện hoặc thang đo điện trở khi ta đo điện áp một chiều (DC) , nếu nhầm đồng hồ sẽ bị hỏng ngay !!
4) Hướng dẫn đo điện trở và trở kháng. Với thang đo điện trở của đồng hồ vạn năng ta có thể đo được rất nhiều thứ.
4.1 - Đo điện trở : Đo kiểm tra điện trở bằng đồng hồ vạn năng
Để đo tri số điện trở ta thực hiện theo các bước sau :
4.2 - Dùng thang điện trở để đo kiểm tra tụ điện
Ta có thể dùng thang điện trở để kiểm tra độ phóng nạp và hư hỏng của tụ điện , khi đo tụ điện , nếu là tụ gốm ta dùng thang đo x1K ohm hoặc 10K ohm, nếu là tụ hoá ta dùng thang x 1 ohm hoặc x 10 ohm.
Dùng thang x 1K ohm để kiểm tra tụ gốmPhép đo tụ gốm trên cho ta biết :
Dùng thang x 10 ohm để kiểm tra tụ hoá
Ở trên là phép đo kiểm tra các tụ hoá, tụ hoá rất ít khi bị dò hoặc chập mà chủ yếu là bị khô ( giảm điện dung) khi đo tụ hoá để biết chính xác mức độ hỏng của tụ ta cần đo so sánh với một tụ mới có cùng điện dung.
5 - Hướng dẫn đo dòng điện bằng đồng hồ vạn năng.
Cách 1 : Dùng thang đo dòng
Để đo dòng điện bằng đồng hồ vạn năng, ta đo đồng hồ nối tiếp với tải tiêu thụ và chú ý là chỉ đo được dòng điện nhỏ hơn giá trị của thang đo cho phép, ta thực hiện theo các bước sau
Cách 2 : Dùng thang đo áp DC
Ta có thể đo dòng điện qua tải bằng cách đo sụt áp trên điện trở hạn dòng mắc nối với tải, điện áp đo được chia cho giá trị trở hạn dòng sẽ cho biết giá trị dòng điện, phương pháp này có thể đo được các dòng điện lớn hơn khả năng cho phép của đồng hồ và đồng hồ cũmg an toàn hơn.
Cách đọc trị số dòng điện và điện áp khi đo như thế nào ?
* Đọc giá trị điện áp AC và DCKhi đo điện áp DC thì ta đọc giá trị trên vạch chỉ số DCV.A
Nguồn: hocnghe.com.vn
Video Clip hướng dẫn sử dụng đồng hồ VOM
Việc tính toán điện trở hạn chế cường độ dòng điện vào một đèn LED là việc rất quan trọng trong việc thiết kế. Khác với điện trở bình thường, hoạt động tuyến tính theo định luật Ohm: V=IR, LED không hoạt động tuyến tính mà theo một đường cong đặc trưng IV khác hẳn so với một điện trở.
Mỗi một đi-ôt có một điện áp phân cực thuận riêng, thường khoảng 1,5-4V cho đèn LED, và để có thể bật sáng một đèn LED ta phải phân cực thuận cho nó đến điện áp này, tuy nhiên, ngay khi đạt được điện áp phân cực thuận, trở kháng của LED sẽ giảm một cách đột ngột, điều đó có nghĩa nó sẽ phải chịu một dòng điện lớn chạy qua và có thể cháy ngay lập tức trong nhiều trường hợp. Một điện trở thường được mắc song song với LED này để giữ cho dòng điện qua chúng khi mà đèn led đạt trạng thái phân cực.
Sử dụng sơ đồ mạch điện trên, ta sẽ cần biết 3 giá trị để có thể tính toán được giá trị của điện trở hạn dòng cho LED. 2 trong 3 thông số đó đã được nhà sản xuất chỉ rõ.
i: cường độ dòng điện qua LED khi nó được phân cực thuận. (có thể tìm trong datasheet).
Vf: Hiệu điện thế rơi trên LED khi nó được phân cực thuận. (có thể tìm trong datasheet).
Vs: Hiệu điện thế nguồn.
Sau khi có được các thông số đó, sử dụng công thức sau để tính toán giá trị điện trở:
Mỗi một đi-ôt có một điện áp phân cực thuận riêng, thường khoảng 1,5-4V cho đèn LED, và để có thể bật sáng một đèn LED ta phải phân cực thuận cho nó đến điện áp này, tuy nhiên, ngay khi đạt được điện áp phân cực thuận, trở kháng của LED sẽ giảm một cách đột ngột, điều đó có nghĩa nó sẽ phải chịu một dòng điện lớn chạy qua và có thể cháy ngay lập tức trong nhiều trường hợp. Một điện trở thường được mắc song song với LED này để giữ cho dòng điện qua chúng khi mà đèn led đạt trạng thái phân cực.
Sử dụng sơ đồ mạch điện trên, ta sẽ cần biết 3 giá trị để có thể tính toán được giá trị của điện trở hạn dòng cho LED. 2 trong 3 thông số đó đã được nhà sản xuất chỉ rõ.
Vf: Hiệu điện thế rơi trên LED khi nó được phân cực thuận. (có thể tìm trong datasheet).
Vs: Hiệu điện thế nguồn.
Sau khi có được các thông số đó, sử dụng công thức sau để tính toán giá trị điện trở:
vnMedian tổng hợp một số bài viết hướng dẫn cách làm mạch in thủ công. Hy vọng sẽ giúp ích cho các bạn mới học điện tử.
Các thử chúng ta phải cần là :
+ Fipđồng (mạch in trơn bán sẵn ở chợ Nhật Tảo nếu các bạn ở HCM)
+ Giấy thủ công
+ Fecl3 (nhiều ) + HCl (it) + butin + Axeton + Nhựa thông. Đây là hỗn hợp bột ăn mòn mạch in có bán ở chợ điện tử Nhật Tảo được làm thành dạng gói, mua về pha nước mà dùng
+ Bàn là điện
+ Khoan. Nếu có khoan máy càng tốt
Quá trình cho được linh kiện lên mạch phíp đồng thì cần phải có những bước sau :
1 ) Thiết kế mạch trên máy PC
Đầu tiên chúng ta có 1 mạch nguyên lý và chúng ta muốn dùng liện để chạy nó xem nào nó có đúng ko và mạch có ok ko. Thì việc đầu tiên chúng ta vẽ mạch nguyên lý đó lên máy tính và chuyển sang vẽ mạch in bằng các phần mền như là Protell , Orcad... hay là các phần mền hỗ trợ vẽ PCB khác. Sau khi chúng ta vẽ hoàn chình xong thì mạch chúng ta sẽ có dạng như thế này.
Như trên là hình vẽ hoàn chính của mạch sau khi chuyển sang PCB. và đây tôi vẽ bằng Protell. Các dây xanh là dây mặt dưới và các dây đỏ là các dây đi mặt trên2) In mạch ra giấy thủ công
Sau khi đã chuyển sang PCB thì chúng ta phải đi in cái đó ra giấy thủ công. Khi in ra chúng ta chỉ có trắng đen thôi và các lỗ cắm linh kiện. Chúng ta hãy tạo 1 file in trực tiếp trên máy khi đó ra quán họ chỉ việc in thôi. chứ họ không biết phần mền đang dùng thế nào đâu mà sửa
Đấy là các đường chúng ta muốn in lên fip đồng. Nó phải có đầy đủ các lỗ và các đường dây của lớp dưới. Chúng ta phải tạo ra 1 file như thế thì ở đâu họ cũng in cho mình. Không cần phải mang cả file mạch của mạch mà chúng ta chỉ cần save file mà chúng ta in trên máy mang đi ra quán là họ in.Điều quan trọng là chúng ta phải in lên giấy thủ công của bọn trẻ em cắt dán vì giấy này nó bóng và khi là nó ăn mực hết xuống fip đồng.
Đấy là đường mạch của chúng ta được in lên giấy thủ công. Trông cũng đẹp đấy chứ!Chúng ta cần có 1 tấm fip đồng có điện tích bằng diện tích mạch chúng ta vẽ in lên giấy thủ công. Để cho mực in hết xuống tấm Fip trước khi đó chúng ta cần phải đánh sạch fip đồng đi. Có thể dùng giấy dáp giấy dáp nhẹ với nước cho nó sạch Lúc đầu khi mua về nó bẩn thé này
Và chúng ta rửa đi là nó sạch.
Tiếp theo chúng ta quấn giấy mà chúng ta vừa in lên fip đồng. Và nên nhớ là lớp mạch in lên giấy thủ công phải được để úp vào lớp đồng của Fip. Để tránh ban đầu là nó nóng quá hỏng lớp fip đồng thì chúng ta đệm thêm 1 cái giấy nữa khi là Đấy nó được bó chặt lên Fip đồng. Lớp dưới là lớp giấy thủ công còn lớn trên cùng là giấy bọc thêm. Nên nhớ là để đường mạch in trong giấy thủ công phải trong lòng fip đồng tránh đặt lệch ra ngoài là khi là nó không ăn mực lên lớp đồng đâu
Là xong cái đó rồi chúng ta bây giờ cho bàn là vào là nóng nó thôi/. Đặt nhiệt độ bàn là tầm tầm đừng có chó max mà hỏng mất Fip đồng (Nếu mua Fip không tốt thì nóng quá nó rỗ ngay lớp đồng lên) Quá trình là cứ di đi di lại bàn là cho nó đều các góc của mạch. Không có chỉ được ở giữa còn 4 bên lền lại không có
Chúng ta cứ là đi đến khi nào thấy lớp mực in nó in toàn bộ xuống lớp đồng như thế là được. NÓi chung quá trình là này cũng tưởng đối lâu. Tôi là mất 30 phút ngồi là mỏi cả tay. Đúng là phương pháp này mệt công thật.
Chú ý " Chúng ta là 1 lúc sau đó chúng ta bỏ cái lớp giấy bọc bên ngoài ra và cho là trực tiếp vào giấy thủ công di đi di lại và di đều các góc cho mực in ra đều fip đồng và kiểm tra xem đã được chưa nếu chỗ nào chưa được chúng ta di đi di lại cái phần đó. Theo kinh nghiệm của tôi là thì đa phần các góc và các bên lề là không được vì mình là không đều nên các chỗ đó mực nó chưa in lên Fip đồng cho nên chúng ta cần phải là những chỗ chưa in mực cho nó in nốt xuống Fip!
4 ) Ngâm mạch in
Chúng ta đã là xong và mực in của chúng ta được dính hết xuống Fipđồng bước tiếp theo chúng ta mang ra nước rửa cho nó lóc hết cái giấy ra và còn lại mực in lên mạch và ta cần Nhớ là póc hết những lớp giấy ra và để lại cái đường mực trên mạch. Póc lớp giấy nhẹ nhàng không có thì sẽ hỏng lớp mực trên Fip đồng. Póc cho nó sạch và không để lại tí giấy nào lên đó và chỉ có đường mạch trên đó thôi và khi bóc xong nó sẽ sạch sẽ như thế này :
Tiếp theo khi ta đã làm sạch thì chúng ta bỏ ra xem kiểm tra xem chỗ đường mạch nào bị lỗi hay không do trong qua trình là không hết ta dùng bút lông dầu (không phải loại để viết bảng) vẽ lên các điểm bị hỏng đó
Quá trình tiếp theo khi đã sửa xong các đường mạch bây giờ chúng ta đi ngâm mạch. Ngâm mạch trong dung dịch Fecl3 và 1 tí HCL cho nó nhanh. Tại sao như vậy vì theo phản ứng oxi hóa thì Fecl3 + Cu = FeCl2 + CuCle2 và một phản ứng nhỏ là HCl + FeCl2 = FeCl3 + ...Như vậy nó sẽ làm cho quá trình ăn mòn đồng sẽ nhanh hơn.
Quá trình ăn mòn đồng diễn ra tương đối nhanh tùy thuộc vào Fip đồng và nồng độ dung dịch FeCl3. Chúng ta muốn nhanh thì chúng ta phải lắc đi lắc lại mạch thì ăn mòn sẽ nhanh hơn. Những phần đồng nào mà không được bảo vệ bởi lớp mực thì nó bị tiếp xúc với FeCl3 thì sẽ bị ăn mòn bởi FeCl3 còn phần được bảo vệ bởi lớp mực thì không bị ăn mòn dữ lại cho chúng ta đường mạch. Tránh trường hợp vứt đấy đi làm việc gì chả may quên thì lớp mực trên đó ngâm nước lâu sẽ bị bong và lớp đồng cần dữ lại thì cũng bị ăn mòn
Khi đã ngâm xong thấy lớp đồng bay hết đi thì lúc đó mạch đã sạch và chúng ta mang ra nước rửa sạch hết FeCl3 dính lên đó bằng nước. Rửa xong theo tôi đừng vội đánh cả mực đi cứ để đó cho tiếp theo quá trình khoan đã để cho lớp mạch của mình khi khoan nó không bị bẩn vì đã có lớp mực bảo vệ
5 ) Khoan mạch
Quá trình khoan mạch là giai đoạn cuối của quá trình. Những lỗ nào cần khoan thì chúng ta khoan. Như trên mạch đã có lỗ cần khoan. Dùng khoan tay hoặc khoan máy nhưng sinh viên công nghệ thấp dùng khoan tay tự chế Chọn mũi khoan phù hợp với lỗ chân cắm không được chọn to quá mất hết phần bao của của lỗ và khoanh cần thận không rách mạch. KHoan từ từ đi xuống không có bên kia sẽ bị rỗ ra. Nói chung khoan này thì đơn giản các pác làm nhiều rồi sẽ quen tay.
6 ) Kết thúc và hàn mạch
Khi chúng ta đã khoan hết các lỗ cần khoan rồi thì chúng ta đi rửa lại toàn bộ mạch cho nó sạch. Đầu tiên chúng ta dùng butin hay Axeton để rủa sạch lớp mực bám lên Fip đồng. Khi đó nó để lại cho chúng ta đường mạch khá là đẹp sáng.
Khi đã loại bỏ hết lớp mực thì phải bảo vệ lớp đồng đó tránh bị oxy hóa. Bằng cách quét lớp mỏng lên nó ít nhựa thông ( Các pác cho tí nhựa thông vào dùng dịch Axeton để pha hơi loãng để quét lên mạch) Khi đó lớp đồng của chúng ta luôn ở trạng thái đẹp
Khi chúng ta đã khoan hết các lỗ cần khoan rồi thì chúng ta đi rửa lại toàn bộ mạch cho nó sạch. Đầu tiên chúng ta dùng butin hay Axeton để rủa sạch lớp mực bám lên Fip đồng. Khi đó nó để lại cho chúng ta đường mạch khá là đẹp sáng.
Khi đã loại bỏ hết lớp mực thì phải bảo vệ lớp đồng đó tránh bị oxy hóa. Bằng cách quét lớp mỏng lên nó ít nhựa thông ( Các pác cho tí nhựa thông vào dùng dịch Axeton để pha hơi loãng để quét lên mạch) Khi đó lớp đồng của chúng ta luôn ở trạng thái đẹp
BỔ SUNG THÔNG TIN TỪ MỘT THÀNH VIÊN TRÊN DIÊN ĐÀN DIENTUVIETNAM.NET
Hướng dẫn làm mạch in hai lớp bằng Orcad
Chào các bác, hôm nay em xin trình bày với các bác cách làm mạch in hai lớp mà em đã làm, có gì thiếu sót mong các bác cho ý kiến nhé.
Em chỉ nói mấy phần cách làm sau thôi nhé, sau khi các bác chọn hai lớp layer top và bottom để chạy, trước round thì nên để ý các Pad của linh kiện ở phần top và phần bottom, vì mình ko có ống đồng ở mấy lỗ via, do vậy các lỗ via mình sẽ tận dụng các chân của điện trở, IC, diode... vì các chân này mình có thể hàn cả top lẫn bot ,ví dụ như mấy cái đominô thì các bác ko thể nào hàn phía mặt top đc vì vướng mất cái mình nó rồi. Các bác chọn pad cần edit rồi Shift +E một cái, chọn bot hoặc top rồi Undefined nó đi, như IC dán thì nhớ chọn ở phần Top nhé.
Sau khi round xong rồi, khoan hẵng phủ đồng, vì các chân mà mình Undefined sau khi phủ đồng nó sẽ phủ luôn, do vậy khi gắn linh kiện nó sẽ chạm với đồng mà mình phủ, chạm tùm lum là toi luôn. Nó sẽ như này:Do vậy mình Shift +T lại và chọn nó lại như bình thường giống lại mặt bên kia. Khi phủ đồng nó sẽ xuất hiện chân đó lên, đối với linh kiện dán thì khỏi cần
Sau khi in ra giấy decan, bạn ủi bình thường, còn mặt bên kia dán băng keo cho kín lại, làm xong lớp này rồi mới làm lớp trên, mình thì làm lớp Bot trước
Giấy decan này bạn có thể ra ngã tư nguyễn chí thanh và lý thường kiệt có tiệm bán decan, bạn vào hỏi decan trắng mẫu A4, 50k 100 tờ, tha hồ mà xài.
Sau đó ủi lên Và dán mặt sau lại rùi ngâm thôi
Đây là cái nồi đất thứ 3 của em đấy, ko biết dung dịch FeCl3 này có nhiệt độ sôi cao lắm hay sao, hai cái nồi trước của em nứt ra làm đôi, nhưng mà cách này hơi nhanh đấy các bác, đặt lên đun nóng nóng lấy cái muống xối lên xối xuống là ok, bảo đảm 3 phút xong, nhưng mà mùi nó bốc lên hơi nặng đó, các bác nhớ chuẩn bị quạt, khẩu trang mà đeo vào.
Sau khi ngâm và khoan cho nó xong
Và mặt sau của nó
Sau đó các bác in nốt mặt còn lại, nhớ mirror cho nó nhé các bác, àh mà in lên giấy kiếng ấy, cứ ra tiệm in-photo gì nói nó bán là có, 2k một tờ, giấy này hay còn gọi là giấy bóng gì đấy cũng ko rõ:
Sau khi ngâm xong nó thế này
Và sau khi quét nhựa thông
Các lỗ via các bác dùng mấy chân linh kiện có sẵn để xuyên qua và hàn hai đầu lại, tốt nhất là dùng mấy chân to to vừa khít với lỗ luôn để khi hàn khỏi bị xục xịch hai bên.
Chúc các bạn thành công.













